Chuyện 3 cựu tử tù được… lỡ đò về âm phủ

Cả 3 phạm nhân họ Phạm này từng biết thế nào là ngày tận thế, cũng đã trải qua những tháng ngày tuyệt vọng, mỏi mòn để chờ “chuyến đò” đưa họ về thế giới bên kia.

Nhưng rồi, một vài người trong số họ đã may mắn được ở lại. Và giờ đây, họ đã trải lòng và chia sẻ với chúng tôi về phút giây hạnh phúc của đời mình, cái giờ phút họ nhận Quyết định được sống.

Phạm Khắc Thủy – kẻ tử tội luôn chờ cái chết

Chuyện 3 cựu tử tù được... lỡ đò về âm phủ

Phạm nhân ấy có nụ cười tươi rói, cách nói chuyện rất logic, có đầu, có cuối vẫn hay được các quản giáo khen đó chính là Phạm Khắc Thủy. Sau khi nghe câu chuyện của anh, tôi gần như chỉ phải làm cái việc ghi chép lại một cách bài bản. Mà qua câu chuyện này, rất nhiều người đều có thể nghĩ rằng, nếu có lòng tin, mọi việc tốt đẹp sẽ đến…

Phạm Khắc Thủy sinh năm 1963, trú tại Mộc Châu, Sơn La. Những năm cuối 90, đầu 2000, vợ chồng Thủy dành dụm được chút vốn liếng, mua một chiếc xe bán tải để Thủy chở hàng. Hằng ngày, Thủy vào sâu trong các bản thu gom ngô, sắn mang ra chợ huyện bán. Và trong những lần chạy hàng đó, Thủy sa đà vào thuốc phiện. Lúc đầu chỉ là lấy tiền hàng họ để mua thuốc hút, sau Thủy bán cả xe để cho bay theo khói thuốc.

Lúc đó, vợ Thủy không công ăn việc làm, hai đứa con còn nhỏ, cả nhà gần như kiệt quệ bởi thói nghiện của anh ta. Quá bế tắc vì không làm gì ra tiền để nuôi gia đình và hút thuốc, Thủy tham gia mua bán, vận chuyển ma túy từ Sơn La về Hà Nội. Một ngày, khi vừa “ôm” 2 bánh heroin về đến Hòa Bình, Thủy bị bắt.

Trong thời gian nằm giam cứu, Thủy mới thấy ân hận, nuối tiếc, anh ta hiểu ra rằng, chính mình đã đánh mất tất cả. Và cái mất lớn nhất chính là những ngày ở bên vợ con, Thủy đã không giành thời gian để chăm sóc con cái, để giờ đây, chính anh ta là người đã cản con đường tương lai của chúng.

Nhiều đêm Thủy khóc vì thấy có lỗi với vợ con, anh sợ nhất khi nghĩ đến một ngày, lúc ấy con cái lớn lên, ra ngoài xã hội, chúng sẽ sống sao khi có người cứ chỉ trỏ bảo rằng, bố chúng là tử tù. Thời điểm Thủy bị bắt, hai đứa con mới đang tuổi ăn, tuổi học, cô con gái lớn mới học lớp 7, cậu em học lớp 4. Chúng còn nhỏ, nhưng cũng đủ hiểu những buồn đau, đổ vỡ đang xảy ra quanh chúng. Vậy nhưng, cô con gái lớn đã biết biến buồn đau thành sức mạnh, cháu học rất giỏi và được tuyển thẳng vào lớp chuyên toán của trường năng khiếu tỉnh. Nhưng vì trường cách nhà hơn 100 km, gia đình khó khăn, nên cháu đành từ bỏ ước mơ học trường chuyên. Sau lần đó, cháu viết thư cho bố bảo rằng: “Bố đừng lo cho chúng con, chúng con sẽ cố gắng học tốt. Chỉ mong bố giữ gìn sức khỏe, cố gắng cải tạo tốt”.

Đến lúc này, khi ngồi chuyện trò với chúng tôi trong giờ nghỉ giải lao, Thủy bảo rằng, gặp ai anh cũng muốn kể về cô con gái đáng yêu, vì cháu cùng tiếng hét đau đớn, tuyệt vọng ở phiên tòa phúc thẩm xử bố y án tử hình, đã lôi anh ra khỏi cơn u mê nặng nề, để cố gắng từng phút giây khi mình còn có mặt trên cõi đời. Thủy tâm sự tiếng kêu xé lòng của con gái khiến anh nghĩ rằng, con đã tha thứ cho lỗi lầm của mình… Xuống phòng biệt giam, Thủy không còn thấy chán chường, tuyệt vọng như những ngày đầu nữa, ngày nào Thủy cũng đọc báo, khi không còn chữ nào để đọc lại ngồi lặng thầm cầu nguyện, mong vợ con khỏe mạnh. Nhưng để vượt qua những tháng ngày đó quả thật vô cùng khó khăn. Thời gian chậm chạp trôi, ban ngày ngủ, nhưng cứ đêm đến là Thủy lại thức trắng, vì những tử tù đều biết, giờ đi trả án thường là vào lúc trời đêm về sáng.

Ngày đó, cạnh buồng biệt giam với Thủy cũng có một tử tù khác tên là Nguyễn Văn Thủy. Thủy kia quê ở Thái Nguyên, kém Thủy 5 tuổi, cũng bị kết án tử hình vì buôn ma túy. 3 tháng hai anh em được ở cạnh nhau. Chẳng quản ngày hay đêm, nhưng thường khi màn đêm buông xuống, hai anh em lại hát cho nhau nghe, rồi kể chuyện quá khứ, chuyện gia đình, vợ con để đợi đêm qua mau. Vì họ biết rằng, khi họ còn nhìn thấy ánh mặt trời, thì có nghĩa họ còn được sống thêm ngày nữa.

Tuy giờ đã được sống, nhưng Thủy cũng từng trải qua giây phút chuẩn bị bước chân xuống “chuyến đò âm phủ”. Hôm đó, vào khoảng 2h một ngày cuối tháng 4/2005, khi hai Thủy đang chuyện trò thì tiếng cửa sắt ken két rung lên. Phòng của Thủy ở ngay ngoài, anh thấy tiếng cán bộ quản giáo nói to: “Thủy hôm nay đi trả án nhé”. Dù đã bình tĩnh đón chờ giây phút này từ lâu, nhưng sao khi nghe những âm thanh đó, anh bỗng thấy tim mình đau nhói, chân run rẩy không thể nhấc lên được. Để trấn tĩnh lại, Thủy xin cán bộ quản giáo cho thay bộ quần áo mới và hút điếu thuốc lào.

Trong lúc ngồi hút thuốc, Thủy thấy cán bộ quản giáo sang phòng bên cạnh gọi Thủy kia đi trả án. Rồi từ bên đó thấy giọng Thủy kia hồn nhiên: “Anh ơi, thế là anh em mình cùng ‘đi một chuyến đấy’. Thủy đáp lại “Ừ, lát qua Mộc Châu nhà anh ăn cơm nhé”. “Không, anh phải qua Thái Nguyên nhà em trước đã”. Hai anh em đùa nhau như vậy, nhưng sao nghe lòng mặn chát chia ly. Thủy kia được đưa ra trước để ăn bữa cơm cuối cùng và rồi ra khỏi phòng, còn Thủy cứ ngồi như vậy hút thuốc mà không thấy cán bộ quản giáo quay lại. Mãi đến 7h sáng, một cán bộ quay lại bảo: “Thủy chưa đến lượt nhé”. Thủy ngồi gục xuống, lòng trống rỗng.

Vì đã một lần tưởng sẽ phải xuống đò âm phủ, nên Thủy hiểu thế nào là sự chấm hết. Thế nên, những ngày sau đó, lúc nào anh cũng cảm thấy thời gian trôi thật nhanh, Thủy lo sợ ngày mình ra đi mà còn chưa kịp dặn dò vợ con. Thủy đã nhờ một phạm nhân xin cho một cái ruột bút bi, thi thoảng lại viết mấy dòng vào bên trong tấm áo khoác. Cứ thế, khi những lời căn dặn vợ con được Thủy ghi dày đặc lớp vải lụa lót áo, Thủy đã gửi lại cho người phạm nhân dọn dẹp và nhờ rằng, khi nào Thủy chết, anh hãy mang tấm áo đó về cho vợ con Thủy.

Nhưng tấm áo đó chưa kịp đến tay người cần nhận, thì tròn một tháng sau, vào khoảng 9h sáng, khi đang ngồi cầu nguyện cho vợ con, Thủy được cán bộ quản giáo vào dẫn ra ngoài để nghe quyết định ân xá của Chủ tịch nước từ tử hình xuống chung thân. Thủy không thể tả hết cảm giác lúc đó của mình, lâng lâng vui sướng, xúc động nghẹn ngào. Tin vui đó không chỉ khiến Thủy xúc động, mà ngay cả cậu phạm nhân phục vụ buồng tử tù, khi biết tin đã ôm chầm lấy Thủy mà khóc. Thủy nói rằng, đến giờ anh mới hiểu câu “phúc bất trùng lai”.

Sau khi được giảm án xuống chung thân, thì cũng là lúc cô con gái của Thủy thi đậu Đại học Luật Hà Nội. Cậu con trai sang năm sẽ lên lớp 12, sau đó sẽ thi đại học. Cháu luôn bảo, sẽ cố gắng học tốt để thi đậu như chị. Niềm vui nối tiếp niềm vui, vợ chồng gặp nhau trong những lần trại tổ chức cho người nhà thăm gặp, chưa bao giờ Thủy thấy vợ mình không khóc. Đó là những giọt nước mắt hạnh phúc.

Thủy nói rằng, gia đình anh có được ngày như hôm nay là nhờ rất nhiều vào lòng tin và nghị lực mạnh mẽ của mỗi thành viên trong gia đình. Bản thân anh luôn cố gắng, ngày nào mình còn sống thì ngày đó chưa được thôi hy vọng. Và giờ đây, Thủy đang cố gắng hết mình cải tạo, lao động để trả ơn cuộc đời

Phạm Văn Trường – Cựu trưởng thôn buôn ngân phiếu giả

Chuyện 3 cựu tử tù được... lỡ đò về âm phủ

Gặp phạm Văn Trường, sinh năm 1960 ở thôn Tân Trường, xã Thanh Hải, huyện Lực Ngạn, Bắc Giang trước dịp đặc xá đặc biệt năm nay, chúng tôi cũng cảm thấy vui lây với phạm nhân này khi anh ta đang tính từng giờ được trở về gia đình, sau khi bản án tử hình của Trường được Chủ tịch nước ân giảm xuống chung thân. Trường như được tái sinh thêm lần nữa.

Dù đã hơn 12 năm từ khi xảy ra vụ án, những Trường vẫn nhớ như in ngày mình bị bắt, đó là ngày 5/9/1997, Trường bị bắt cùng Trần Văn Tuyên, Trần Văn Phượng…vì dùng ngân phiếu Việt Nam giả đổi lấy tiền thật. Thấy đổi được tiền, riêng Trường đã 4 lần đổi với số lượng 480 tờ ngân phiếu tại ngân hàng Lục Ngạn. Vì tham lam, cộng với sự thiếu hiểu biết pháp luật, Trường bị bắt ngay sau khi đổi ngân phiếu. Điều làm nhiều người thôn Tân Trường không ngờ là thời điểm đó Trường đang là trưởng thôn nhiệt tình, hết lòng vì bà con chòm xóm…

Trường cũng nhớ như in ngày mình bị đưa ra xét xử. Trong ý nghĩ anh ta, mức án cao nhất chắc là khoảng 20 năm, bởi anh ta nghĩ, anh không chủ ý tham gia đường dây đổi ngân phiếu giả, chỉ vì tham lam, lại thiếu hiểu biết pháp luật mới nên chuyện. Nhưng Và Trường không hề biết rằng hành vi dùng ngân phiếu giả là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến an ninh quốc gia… Vậy nên khi bị tuyên án tử hình, Trường choáng váng, suýt ngất. Còn người vợ lam lũ quanh năm cùng hai cô con gái đang học cấp hai có mặt tại phiên xử cũng đã lịm đi, phải đưa đi cấp cứu bệnh viện ngay sau đó vì quá sốc với mức án mà chồng, bố của họ phải lĩnh.

Sau khi kháng án, Trường vẫn bị tòa phúc thẩm tuyên y án bằng bản án tử hình. Về trại tạm giam chờ thi hành án, Trường thấy cuộc sống bị rơi vào khủng hoảng cùng cực, lặng câm suốt bao nhiêu ngày, không ăn nổi cơm vì buồn, vì thấy số phận mình thiếu may mắn. Nhưng với hy vọng còn nước còn tát, kẻ lĩnh bản án tử hình này lại xin cán bộ trại tạm giam bút giấy để viết đơn xin ân giảm án tử hình gửi Chủ tịch nước. Với suy nghĩ, dù gì Trường cũng không phải là kẻ cầm đầu, lại vì tham lam, thiếu hiểu biết phạm luật mà phạm tội nên Trường tin sẽ được hưởng khoan hồng khi mình đã biết hối lỗi. Cùng với thư xin ân giảm của Trường, gia đình Trường là đơn xin ân giảm án tử hình của lãnh đạo xã Thanh Hải gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình cho Trường. Lời ăn năn của Trường được Chủ tịch nước xem xét và ân xá vào năm 2000, kẻ này như một lần nữa hồi sinh khi nhận được quyết định ân giảm án tử hình xuống chung thân. Nhận tin Trường được giảm án, ngay hôm sau, vợ con Trường đến tận trại tạm giam để chia vui.

Trường được chuyển đến trại giam Nam Hà thụ án. Vốn là một trưởng thôn, Trường luôn nhận thức phải cố gắng cải tạo thật tốt để tiếp tục được xem xét giảm án. Với suy nghĩ đó, nên suốt 10 năm liền cải tại, Trường luôn được xếp hạng lao động cải tạo tốt và khá. Được làm công việc phụ bếp ăn của phạm nhân phân trại 1 của trại Nam Hà, và giao thêm công việc nuôi lợn để tăng gia, cải thiện bữa ăn cho các phạm nhân trong trại, dần dần Trường quen với cuộc sống mới, được sự thăm nom động viên thường xuyên của vợ và các con, được sự hướng dẫn của các cán bộ quản giáo của trại Nam Hà, Trường như có động lực phấn đấu để cải tạo tốt hơn. Bù lại cho thành tích lao động cải tạo tốt của Trường, từ án chung thân, Trường được giảm án xuống 20, cộng với 5 lần được giảm án từ 5 đến 7 tháng mỗi năm, xét theo tiêu chuẩn đặc xá năm nay, Trường đủ điều kiện và có tên trong danh sách được đề nghị xét đặc xá.

Riêng về hai con gái, Trường nhớ hồi mới vào trại còn là học sinh cấp hai, hai cô con gái cũng là niềm động viên lớn lao đối với vợ chồng anh, cũng là nỗi lo kinh tế cho vợ anh thời điểm đó. Khi đó, chỉ còn người vợ lo chuyện đồng áng, vườn tược để nuôi con ăn học và thăm nuôi chồng ở trại. Chị Sơn vợ Trường cho hay, những ngày đó đúng là bĩ cực, nhưng khi chị trở thành trụ cột của một gia đình, đành cố nén nỗi buồn để hai đứa con yên lòng học hành, lại còn động viên chồng đang tưởng như kề cận cái chết. Còn Trường ngược lại, cũng viết thư động viên vợ để cùng nhau vượt qua giai đoạn khó khăn đó, để con yên tâm học tập. Mọi cố gắng của vợ Trường cũng được đền đáp khi cô gái cả học giỏi và thi đỗ đại học. Sau bốn năm học, giờ con cả cũng đã yên bề gia thất ở Hà Nội sinh một cháu bé kháu khỉnh, thi thoảng cả ba bố mẹ con lại đến trại Hà Nam thăm ông ngoại. Nhắc đến cháu ngoại, anh Trường lại rưng rưng, ơn trời vì số phận đã không lấy đi của anh tất cả. Con gái may mắn lấy chồng là con trai của một gia đình giáo viên tại thành phố Vinh. Do là gia đình có văn hóa, nên ông bà thông gia chưa bao giờ làm cho gia đình Trường cảm thấy mặc cảm về thân phận phạm nhân như Trường, ngược lại, khi có điều kiện, họ vẫn gửi quà để anh bồi dưỡng thêm.

Còn cô con gái thứ hai cũng đã trưởng thành, dù không học hành được nhiều như chị cả, nhưng cũng có chí, chăm chỉ lao động. Sau khi có chút tiền, năm 2005 đã đi xuất khẩu lao động ở Malaisia. Sau hơn 5 năm làm cũng có lưng vốn kha khá gửi mẹ. Điều làm gia đình Trường mừng hơn là con gái út báo tin đã có người yêu là người Malaisia, chuẩn bị về Việt Nam ra mắt bố mẹ, họ hàng để chuẩn bị kết hôm. Mới đây, cô gái này khi biết tin bố có trong danh sách được xét đặc xá, đã viết 10 trang thư động viên bố và mời bố sang chơi với con gái ở Malaisia sau khi được đặc xá.

Trường dự định, nếu được ra trại, anh ta lại cùng vợ chăm sóc vườn vải ở Lục Ngạn, kinh tế gia đinh một tay vợ chèo chống, giờ cũng vượt qua thời kỳ khó khăn, Trường cho biết năm nay, vườn vải nhà anh ta thu được hơn 100 triệu đồng, anh hy vọng sau khi ra trại lại cùng vợ mở rộng vườn vải, đào ao nuôi cá, làm trang trại nuôi lợn để tạo thêm công ăn việc làm cho nhiều người cùng thôn xóm, theo trường đó là cách làm giúp anh ta nhanh chóng hòa nhập với xã hội sau nhiều năm sống tách biệt, cũng là cách để hạn chế sự phạm pháp của những người khác khi họ có công ăn việc làm.

Phạm Ngọc Định – Kẻ phạm tội mua bán ma túy mê viết tiểu thuyết

Chuyện 3 cựu tử tù được... lỡ đò về âm phủ

Đang buôn bán ô tô phát đạt, Phạm Ngọc Định, SN 1961 ở Nam Sơn, An Dương, Hải Phòng bị bắt vì liên quan đến đường dây ma túy do Lương Văn Chinh, Ngô Văn Đoàn ở Nam Định cầm đầu. Bị khép vào tội chết, những ngày trong phòng biệt giam, Định mới hối tiếc và ý nghĩ muốn tri ân với đời đã hối thúc anh ta cầm bút mặc dù trước đó chưa một lần mặn mà với văn chương. Bằng những kinh nghiệm bao nhiêu năm lăn lộn trên thương trường, Định muốn để lại cho nhân thế những bí quyết làm giàu mà anh ta đã đúc rút được trong thời gian buôn bán trước đó. Chỉ bốn tháng kể từ khi chắp bút, bản thảo về một cuốn tiểu thuyết có tựa đề “đen và trắng” được hình thành với gần 800 trang viết tay.

Trò chuyện với chúng tôi, Định bật mí vừa viết xong một cuốn “tuổi thơ anh hùng” và đang ấp ủ viết một cuốn tiểu thuyết về cuộc chiến tranh ở Việt Nam với tựa đề “vĩ cầm đỏ”. Theo lời Định thì từ trước tới nay đã có rất nhiều nhà văn viết về hai cuộc chiến tranh chống giặc Pháp, Mỹ ở Việt Nam nhưng chưa có một cuốn tiểu thuyết nào nói về tổng thể cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam thông qua hai cuộc chiến trên. Định muốn viết về đề tài đó mà khi đọc nó, độc giả trong và ngoài nước sẽ hình dung được một cách toàn cục cuộc chiến vĩ đại của dân tộc ta. Thế nhưng “ở trong này, việc tìm kiếm tư liệu để viết về chiến tranh khó quá. Nhà văn Nguyễn Đình Tú có gửi cho tôi một ít tài liệu nhưng không đủ”, Định tâm sự. Theo lời Định thì chủ đề mà anh ta viết xoay quanh tình yêu của một anh bộ đội với một nữ thanh niên xung phong, nhân vật có thật ngoài đời, xuyên suốt tác phẩm với sự xuất hiện của hàng trăm nhân vật song hành mà không có sự lặp lại.

Nhớ lại ngày ở phòng biệt giam, Định bảo thời gian đó thật kinh khủng nhưng cũng chính trong khoảng thời gian đếm ngày được sống ấy, anh ta mới thấy nghị lực muốn sống của con người thật phi thường. Ngày đó, khi ở phòng biệt giam dành cho những kẻ tử tù, Định mới thấy ân hận, tiếc nuối. Mỗi khi đọc báo, thấy nhiều người còn đói khổ, chỉ mong có vốn để làm ăn mà không được, Định lại vật vã rồi trăn trở hàng đêm khi nghe có người đang ăn nên làm ra, chỉ vì hám lợi trước mắt mà trở thành tay trắng, hoặc vào chốn lao tù. Định cũng đau đớn khôn nguôi khi cảm thấy nhục nhã bởi bản thân lành lặn, khỏe mạnh vì một phút tham lam mà dính vào tù tội trong khi có nhiều người mặc dù tàn phế, gia cảnh nghèo nhưng vẫn vươn lên làm giàu chính đáng.

Rồi việc cầm bút viết truyện đến với Định như một định mệnh. Ấy là lần đang trong buồng giam, Định vô tình nghe được lời phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khải trong một buổi trò chuyện với các nhà văn, nhà thơ, rằng đất nước đang thời kỳ hội nhập, các nhà văn hãy làm sao để thông qua tác phẩm của mình giúp độc giả tìm được cách làm giàu, nhìn thấy cuộc sống một cách chân thực, sinh động hơn. Nghe những lời đó, tự dưng Định cũng cảm thấy mình phải làm một việc gì đó để tri ân với cuộc sống và ý nghĩ phải viết một cuốn sách đề cập đến cách làm giàu đã thôi thúc anh ta phải viết. Không còn thời gian để nghĩ đến tương lai u tối; không còn thời gian để lo lắng cho giờ ra pháp trường thi hành án mà chỉ còn là sự gấp gáp, hối hả của một kẻ lo chưa hoàn thành công việc đã bị “dứt bỏ cuộc vui”. Nói như nhạc sỹ Thanh Tùng thì “chỉ mong cỗ xe định mệnh không dừng sớm khi đang rong chơi”, Định cũng lo như vậy.

Mỗi khi có dịp gặp người nhà, thay vì đồ thực phẩm, Định chỉ xin được tiếp tế bút, sách và cứ vậy, trong ánh sáng mờ mờ nơi cửa sổ buồng giam, sáng nào, Định cũng kê bút viết. Hối hả, gấp gáp, chỉ trong bốn tháng, hơn 800 trang bản thảo về cuốn tiểu thuyết đầu tay được hình thành. Định chuyển dần về cho gia đình song thật tiếc do anh ta vẫn chưa có quyền công dân nên những bí quyết làm giàu mà Định viết ra vẫn chỉ là bản thảo và chưa đến được tay độc giả.

Định bảo anh ta cảm thấy hạnh phúc vỡ òa khi đơn xin ân xá của mình được Chủ tịch nước chấp thuận. Cho rằng cần phải cảm ơn cuộc đời đã cho thêm cơ hội sống, Định viết tiếp cuốn tiểu thuyết thứ hai rồi thứ ba. Niềm an ủi lớn nhất của anh là mỗi trang bản thảo viết xong, các bạn tù cùng buồng là độc giả đầu tiên chuyền tay nhau đọc. Nhiều người cũng vì háo hức xem phần tiếp theo câu chuyện mà Định đang xây dựng, trở nên đọc thông viết thạo. Nhìn họ xúm xít đọc bản thảo của mình, Định không lo bị hỏng mà chỉ ước sao sớm hoàn thiện cuốn truyện để trước tiên các bạn tù hiểu được mục đích của Định khi chắp bút viết về đề tài hóc búa này.

Anh cho biết mình viết vào thời gian rỗi, bất kể lúc nào: ngày nghỉ lao động; khi các bạn tù ra ngoài sân chơi,…Định lại cắm cúi bên trang bản thảo. Từ ngày vào trại giam Nam Hà, Định đã viết xong cuốn tuổi thơ anh hùng và đã viết được 500 trang bản thảo về đề tài chiến tranh Việt Nam.

10 năm có lẻ sống tách biệt với cộng đồng nhưng chưa lúc nào Định cảm thấy mình là người nhàn rỗi. Hy vọng một ngày gần đây, khi Định có điều kiện trở về với cuộc sống đời thường, những trang tiểu thuyết viết ra từ gan ruột của anh ta sẽ có dịp đến tay độc giả.

  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: